Ứng dụng: Nuôi vịt thịt trên đệm lót sinh học


Nuôi theo phương thức này giúp vịt sạch sẽ, thoải mái, nhanh lớn, không dọn hay vệ sinh chuồng trại, không gây mùi hôi thối, không ảnh hưởng môi trường.

Nhằm triển khai đề án “Tái cơ cấu ngành nông nghiệp Vĩnh Long theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững”, Trung tâm KN Vĩnh Long đã chuyển giao tiến bộ kỹ thuật mới giúp người dân chuyển đổi phương thức chăn nuôi vịt truyền thống sang ứng dụng nuôi trên đệm lót sinh học…

Trung tâm từng bước giúp người chăn nuôi giải quyết hiệu quả vấn đề ô nhiễm, nâng cao chất lượng môi trường sống, nâng cao hiệu quả kinh tế cho người chăn nuôi vịt từ 10 – 20% so với cách nuôi truyền thống, bảo vệ sức khỏe cộng đồng và tăng hiệu quả kinh tế.

Mô hình nuôi vịt an toàn sinh học

Theo đó, ngành nông nghiệp tỉnh đã xây dựng mô hình chăn nuôi vịt siêu thịt theo hướng an toàn sinh học. Phương thức nuôi nhốt, chuồng sử dụng đệm lót sinh học và chăn thả có ao hồ (vịt – cá). Đây là một trong những phương thức chăn nuôi vịt siêu thịt phù hợp nhất.

Nuôi theo phương thức này giúp vịt sạch sẽ, thoải mái, nhanh lớn, không dọn hay vệ sinh chuồng trại, không gây mùi hôi thối, không ảnh hưởng môi trường xung quanh, dễ kiểm soát dịch bệnh, giảm chi phí, giảm công lao động, khi xuống ao hồ tắm vịt thải phân ra làm thức ăn cho cá, tăng cao hiệu quả kinh tế. Kết quả sau 60 ngày nuôi, 10 hộ dân tham mô hình nuôi vịt thịt trên đệm lót sinh học ở xã An Phước với số lượng 200 con/1 hộ đạt hiệu quả cao; tỷ lệ vịt nuôi sống đạt 96,6%, trọng lượng đạt 3,5 kg/con, ước lợi nhuận của mô hình trên 19 triệu đồng.

Chị Lâm Thị Lành, ấp Phú Hội, xã An Phước tham gia mô hình phấn khởi cho biết: Được cán bộ khuyến nông chuyển giao kỹ thuật, hướng dẫn xây dựng chuồng trại trong sân sau vườn rộng trên 200 m2 xây dựng trại với diện tích 36m , rải 26 bao trấu và xơ dừa làm đệm lót. Lớp đệm dày 20 cm xung quanh có lưới vây để bảo vệ đàn vịt. Khi xây dựng chuồng theo hướng dẫn của trạm khuyến nông xong tôi tiến hành xịt sát trùng chuồng trại trước khi thả con giống 7 ngày.

Đây là mô hình chăn nuôi quy mô nông hộ kết hợp nuôi vịt với vườn cây và ao hồ tại gia đình phù hợp với địa phương nhằm giải quyết tốt cho lao động nhàn rỗi ở nông thôn, tạo thêm thu nhập cho hộ gia đình.
K

hi đem vịt giống về không cho ăn liền mà pha nano úm cho vịt con uống, dùng ván khoanh chuồng nhỏ lại chia ra làm 4 ô mỗi ô khoảng 1,5 m2 , mỗi ô thả 50 vịt con và treo 1 bóng đèn tròn cho vịt khỏi lạnh. Sáng ngày sau tôi mới cho vịt ăn thức ăn viên nhỏ tiếp tục cho uống nano úm sáng chiều (ngày cho ăn 5-6 bữa nhỏ).

Ngày tuổi thứ 3 cho uống kháng thể phòng bệnh viêm gan cho vịt. Trong 3 ngày đầu úm đèn và cho uống thuốc theo qui trình kỹ thuật, Ngày tuổi thứ 4 rút bớt ra 2 bóng đèn , và tiếp tục chăm sóc theo kỹ thuật hướng dẫn, ngày tuổi thứ 7 chích vắc xin ngừa dịch tả.

Tối khoảng 8 giờ tôi tiến hành rút máng ăn đến 10 giờ rút máng uống cho vịt khỏi lạnh. Lúc này vịt đã đi phân nhiều tiến hành rải men vi sinh Balasa-N01 lên nền chuồng và cào đào nhẹ trên bề mặt đệm lót.

Từ ngày thứ bảy trở đi tiến hành cho vịt ra ngoài chơi và tập cho xuống nước 30 phút rồi nhốt lại, về sau mỗi ngày chúng xuống nước nhiều hơn và thời gian lâu hơn.

Đến ngày tuổi 15 tôi tiến hành ngừa cúm gia cầm H5N1 (trước khi ngừa cúm H5N1 cho uống thuốc bổ để tăng đề kháng cho vịt. Qua ngày tuổi 21 trở đi tiến hành treo một bóng đèn cho sáng để vịt ăn đêm và mở cửa chuồng cho vịt xuống nước tắm tự do , cho ăn ngày 4 cữ sáng – trưa – chiều và tối.

Đến nay vịt được 60 ngày tuổi trọng lượng trung bình 1 con là 3,5 kg, ước lợi nhuận khoảng 4 triệu đồng/200 con/2 tháng nuôi. Qua thực hiện mô hình bà con được tập huấn kỹ thuật nuôi vịt trên đệm lót sinh học, biết cách làm đệm lót không có mùi hôi, thời gian nuôi mau lớn, tỷ lệ sống cao, đạt 98%, không tốn công chăm sóc.

Mai Trân
Trạm KN Mang Thít
Nguồn: Báo Nông Nghiệp Việt Nam
Share:

Xu hướng dinh dưỡng gia cầm trong tương lai



Trong hội nghị chuyên đề về dinh dưỡng gia cầm tại châu Âu vừa qua, 1500 đại biểu đã cùng nhau thảo luận và đưa ra những tiên đoán về xu hướng trong tương lai gần của ngành chăn nuôi gia cầm căn cứ vào những nghiên cứu trong các trường đại học và trong các tổ chức thú y trên khắp thế giới.

Dưới đây là 6 xu hướng chính mà đa phần các đại biểu tin rằng sẽ ảnh hưởng đến chăn nuôi gia cầm trong tương lai gần.


1. Dinh dưỡng và di truyền học biểu sinh trong chăn nuôi gia cầm

Di truyền học là ngành khoa học nghiên cứu các phản ứng tổng hợp bộ gen (AND) của bố và mẹ, trong khi di truyền học biểu sinh là một nhánh mới chuyên nghiên cứu về ảnh hưởng của các yếu tố gây stress như môi trường, ngoại cảnh, thói quen sinh hoạt, chế độ ăn uống…lên biểu hiện của hệ gen.

Nghĩa là các yếu tố stress đó có thể làm “tắt” vài gen và để cho vài gen khác hoạt động. Trong thực tế, sự thay đổi biểu hiện gen này có thể di truyền cho ít nhất tới 2 thế hệ tiếp theo.

Tiến sĩ Ferket từ Đại học Bắc Carolina – Hoa Kỳ và Tiến sĩ Haron từ Đại học Hebrew ở Jerusalem – Israel còn cho biết, các yếu tố gây stress trong quá trình ủ trứng còn có thể làm cho gà sau khi nở có khả năng kháng lại stress nhiệt tốt hơn.

Như vậy có nghĩa là một chế độ dinh dưỡng thiếu hụt, mất cân bằng gây stress cho gia cầm mái có thể ảnh hưởng cả đến đời con, cháu. Vì vậy, trong chăn nuôi gia cầm chế độ ăn uống của gia cầm giống là một trong những yếu tố cực kỳ quan trọng mà chúng ta cần chú ý nếu không muốn ảnh hưởng tới chất lượng đời sau.

2. Dinh dưỡng từ giai đoạn phôi bào (trứng)

Tiêm các dưỡng chất dạng nước (dung dịch ovo) cho trứng trong quá trình ấp nở nhằm làm tăng chất lượng cho đàn gà con sau khi nở là một kỹ thuật rất sáng tạo được nghiên cứu gần 20 năm nay.

Xu hướng này chắc chắn sẽ được ứng dụng nhiều trong tương lai ngành chăn nuôi gia cầm vì theo tiến sĩ Ferket, nếu có thể tác động lên gà ngay từ giai đoạn ấp nở thì số ngày nuôi càng giảm và thời gian tiếp thị thịt gà tới người tiêu dùng càng ngắn.

Dinh dưỡng từ giai đoạn phôi bào có thể được coi là cuộc cách mạng trong ngành chăn nuôi gia cầm. Giống như sự phát triển của premix trong dinh dưỡng vật nuôi trước kia, các dung dịch ovo cung cấp chất dinh dưỡng và các hợp chất có hoạt tính sinh học khác giúp tăng cường dưỡng chất có trong trứng.

Các chất dinh dưỡng này bao gồm từ carbohydrate đến amino axit, vitamin và khoáng chất, ngoài ra, các chất như probiotic và các hợp chất như axit butyric hoặc IGF-1 cũng đang được thử nghiệm với kết quả đầy hứa hẹn.

Để kỹ thuật này trở thành xu hướng chủ đạo trong chăn nuôi gia cầm hiện đại, chúng ta cần rất nhiều nghiên cứu và hiểu biết rõ ràng hơn nữa về quy trình chi tiết và lợi ích cụ thể của nó.

3. Giác quan điều tiết hàm lượng chất dinh dưỡng trong chăn nuôi gia cầm

Gia cầm được coi là loài có khả năng cảm nhận hương vị kém hơn động vật có vú. Nhưng theo Tiến sĩ Roura từ Đại học Queensland tại Australia, khái niệm này là khá lỗi thời. Trên thực tế, số lượng các vị giác trong khoang miệng của gia cầm trên một đơn vị khối lượng không hề thấp hơn so với động vật có vú. Trong khi đó, các nghiên cứu cho thấy có một hệ thống các chất hóa học đa dạng tồn tại trong cơ thể gia cầm với tác dụng điều chỉnh lượng chất dinh dưỡng.

Tuy vậy cho đến hiện nay, các nhà khoa học vẫn chưa có nhiều hiểu biết về cách thức mà gia cầm sử dụng bộ máy cảm giác của mình để kiểm soát hàm lượng các chất dinh dưỡng và lượng thức ăn ăn vào.

Một sự hiểu biết rõ ràng hơn về vấn đề này chính là chìa khóa giúp chúng ta có thể cung cấp chính xác lượng chất dinh dưỡng mà con vật cần (không thừa không thiếu), từ đó năng suất chăn nuôi gia cầm sẽ được cải thiện rõ rệt.

4. Mối liên hệ giữa hệ vi sinh vật đường ruột và sức khỏe của con vật trong chăn nuôi gia cầm

Mặc dù ruột chứa nhiều vi khuẩn hơn các tế bào trong cơ thể của mỗi gia cầm nhưng theo Tiến sĩ Van Immerseel từ Đại học Ghent – Bỉ, thì đó chính là những vi khuẩn gắn liền với hàng rào niêm mạc nên được quan tâm nhiều nhất khi nói về mối liên hệ giữa vi sinh vật với sức khỏe của của con vật trong chăn nuôi gia cầm.

Ví dụ như loại vi khuẩn tạo ra axit butyric, đang được nuôi dưỡng bởi các sản phẩm từ quá trình phân hủy xylan (chẳng hạn như thông qua hoạt động của Enzyme có trong thức ăn hoặc Enzyme được sinh ra bởi các vi khuẩn khác trong ruột) giải phóng axit butyric. Axit lên men đơn giản sau đó được hấp thụ bởi các tế bào biểu mô ruột làm giảm viêm, tăng sự gia tăng tế bào biểu mô và tăng sức đề kháng của ruột – tất cả đều dẫn đến tăng cường sức khỏe của đường ruột trong chăn nuôi gia cầm. Ngoài ra, axit butyric còn đóng vai trò là một phân tử tín hiệu làm giảm tính độc của Salmonella.

Các hợp chất khác có thể mang lại những kết quả có lợi tương tự, và xu thế của tương lai chính là điều chỉnh thức ăn mà gia cầm ăn vào để giúp hệ vi sinh vật sản sinh ra những chất có lợi cho cơ thể, giúp gia cầm khỏe mạnh hơn.

5. Thức ăn có chứa Enzyme tiêu hóa 130kg chất xơ

Mỗi tấn thức ăn gia cầm chứa khoảng 130 kg chất xơ – thành phần mà nếu không có nó thì gia cầm có thể sẽ có chỗ để chứa đựng và hấp thu thêm các chất dinh dưỡng cũng như các chất cung cấp nhiều năng lượng hơn.

Trong số 130kg đó, xylans chiếm khoảng 50-70%. Như vậy, theo tiến sĩ Choct từ Đại học New England tại Australia, đây vẫn là mục tiêu của NSP enzyme (là những enzyme chống lại phân tử polysaccharides không tinh bột) trong tương lai gần.

Các thành phần khó tiêu hóa chủ yếu là cellulose, pectin và lignin, tất cả các thành phần trên đều rất khó bị phá vỡ kết cấu trong thời gian ngắn di chuyển trong hệ tiêu hóa của gia cầm.

Có vẻ như những thách thức lớn trong công nghệ xylanase (là loại enzyme có khả năng thủy phân đường xylose với hiệu suất cao và có ảnh hưởng tới quá trình thủy phân xylan) là đặc trưng cho hơn 2000 xylanaz sẵn có và làm thế nào để hiểu được sự biến đổi của xylans trong ngũ cốc thông thường và làm thế nào để kết hợp enzyme với chất nền của nó.

Mặc dù xylanases hiện đang được sử dụng để giảm độ nhớt trong ruột, nhưng trong chăn nuôi gia cầm hiện đại, nó cũng đang được nghiên cứu phối hợp sử dụng với vai trò giống như probiotics.

Một điều thú vị nữa cũng cần được lưu ý ở đây chính là việc sử dụng xylo-oligosaccharides đã được kết nối với các tác dụng có lợi trên vi khuẩn sản xuất butyrate trong ruột.

6. Yêu cầu về phospho trong chăn nuôi gia cầm (cụ thể là trên gà broilers)

Phospho vẫn là một chủ đề thịnh hành trong nhiều năm tới, không chỉ vì phospho dư thừa là một mối nguy hiểm cho môi trường tự nhiên mà còn vì phospho vô cơ hiện có giá khá cao và sẽ ngày càng tăng hơn nữa. Trong khi đó, các nhà sản xuất enzyme tiếp tục đầu tư vào phytase (là enzyme có tác dụng làm tăng hấp thu phospho trong cơ thể lên đến 60%).

Như vậy trong một ngành công nghiệp chăn nuôi gia cầm mà lợi nhuận được tính bằng từng đồng đô la một thì việc đánh giá đúng về nhu cầu phospho – loại nguyên liệu đắt thứ 3 trong số các nguyên liệu bổ sung vào thức ăn chăn nuôi – là một việc làm vô cùng cần thiết, vô cùng quan trọng.

Các nhà nghiên cứu tại INRA, Pháp bao gồm tiến sĩ Khaksar, Meda và Narcy đã phát hiện ra bốn khía cạnh sau đây về phospho có sẵn trong chăn nuôi gia cầm:

1. Nhu cầu phospho mà 1 con gia cầm cần để duy trì duy trì cơ thể: dưới 10% trên tổng số toàn bộ phospho gà hấp thu trong suốt cả cuộc đời.

2. Vai trò của phospho có liên quan nhiều đến trọng lượng cơ thể và tốc độ tăng trọng của gia cầm.

3. Các nhu cầu về phospho vẫn duy trì liên tục trong 30 ngày đầu tiên sau khi nở, sau đó giảm dần.

4. Lượng phospho mà mỗi con gia cầm cần trung bình khoảng 0,07-0,48g/ngày từ khi nở cho đến tuổi trưởng thành.

Những dữ liệu này đã được xác nhận với dữ liệu từ các thí nghiệm về chăn nuôi gia cầm được tiến hành giữa năm 2012 và năm 2015.

Trên đây chỉ là một phác thảo ngắn gọn về những chủ đề mà chúng tôi coi là quan trọng nhất, hay đúng hơn là sáng tạo nhất và theo chúng tôi, chúng sẽ là những xu thế của ngành chăn nuôi gia cầm trong nay mai.

Biên dịch: VietDVM team (Theo Wattagnet)
Share:

Nghiên cứu: Ảnh hưởng của các mức protein thô lên năng suất sinh sản của gà ác

Cùng với năng lượng, protein là một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng trực tiếp lên khả năng sinh trưởng và sinh sản của gà. Nhu cầu protein của gà phụ thuộc vào trạng thái sinh lý như tốc tăng trưởng và năng suất trứng, nhu cầu protein cho duy trì, tăng trưởng và sự mọc lông.

Tuy nhiên, các thông tin về nhu cầu protein của các giống gà bản địa ở các nước trên thế giới và ở Việt Nam rất hạn chế, khác nhau và biến động khá lớn. Do đó, việc xác định nhu cầu protein chính xác để đạt năng suất tối đa là cần thiết.
Hình minh hoạ

Mục tiêu của nghiên cứu nhằm đánh giá ảnh hưởng của các mức protein thô khác nhau trong khẩu phần lên tỉ lệ đẻ, mức tiêu tốn thức ăn, chất lượng trứng và hiệu quả sử dụng thức ăn của giống gà Ác.

Thí nghiệm sử dụng 1.200 gà mái đẻ giống Ác từ 26 – 35 tuần tuổi, bố trí theo hình thức hoàn toàn ngẫu nhiên: đối chứng (ĐC), CPr (protein thô 15,5%), CPv (protein thô 16,5%), CPc (protein thô 17,5%), lặp lại 10 lần. Các khẩu phần thí nghiệm có mức năng lượng bằng nhau (2.600 kcal/kg).

Kết quả nghiên cứu cho thấy các mức độ protein thô không ảnh hưởng đến tỉ lệ đẻ, khối lượng trứng và hiệu quả sử dụng thức ăn. Tương tự, các chỉ tiêu về chất lượng trứng như: chỉ số hình dáng, đơn vị Haugh, chỉ số lòng trắng và lòng đỏ không khác nhau giữa các nghiệm thức; tuy nhiên độ dày vỏ của các khẩu phần thí nghiệm đều tốt hơn so với đối chứng. Khẩu phần có mức độ protein thấp nhất mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người chăn nuôi.

Nguyễn Nhựt Xuân Dung và ctv
Share:

Trường hợp cúm gia cầm điển hình trong thực tế



Cúm gia cầm là chủ đề chưa bao giờ hết hot trong chăn nuôi gà từ trước đến nay. Không chỉ bởi những thiệt hại mà chúng mang đến mà bởi vì có những lúc, con người thực sự cảm thấy bất lực trước sự tàn phá của nó.

Gà con 40 ngày tuổi nhiễm cúm gia cầm, mào sưng và tím tái.

Các triệu chứng của cúm gia cầm trên gà con thả vườn, mào và chân tím tái.

Dù chân đã tím tái nhưng chú gà thả vườn này vẫn có thể di chuyển hoạt động bình thường. Nếu là gà thịt công nghiệp nhiễm cúm gia cầm trong trường hợp này thì đa phần đã bại liệt, trầm cảm và nằm im một chỗ.

Gà nhiễm bệnh chân bắt đầu co cứng.

Đàn gà này không hề tiêm vaccine cúm gia cầm trước đó nên khi mầm bệnh tấn công thì xuất hiện các triệu chứng rất điển hình: chân xuất huyết tím tái. Một số con đã chết trước đó 2 ngày.

Xuất huyết chân khi gà mắc cúm gia cầm

Toàn bộ phần chân xuất huyết, tím tái.

Viêm kết mạc nhẹ.

Phần xoang bụng và các cơ quan nội tạng không có nhiều biểu hiện rõ ràng.

Ruột không có tổn thương đáng kể nào.

Phần dạ dày tuyến và dạ dày cơ trong trường hợp này cũng không có biểu hiện đáng kể nào.

Triệu chứng điển hình nhất trong trường hợp gà nhiễm cúm gia cầm H5N1 này chính là xuất huyết dưới da gây tím tái ở 2 chân; mào sưng phù nề và tím tái. Tiếp đó là tỷ lệ tử vong tăng cao, gà chết đột ngột.

Tuy vậy trong thực tế, không phải lúc nào bệnh cũng biểu hiện rõ ràng như trên. Đa phần, gà nhiễm bệnh sẽ chết rất đột ngột thậm chí ta không nhìn thấy một dấu hiệu bệnh lý nào của cúm gia cầm nên việc chẩn đoán dựa vào các triệu chứng bệnh tích trong thực tế thường không khả thi. Chúng ta cần được hỗ trợ các biện pháp kiểm tra nhanh để chẩn đoán sớm.

VietDVM team biên dịch.         
(theo các trường hợp nghiên cứu thực địa)
Share:

6 nguyên nhân gà bị què, rối loạn vận động và cách khắc phục?


Ngày nay, vì phải đáp ứng một lượng lớn nhu cầu thị trường nên các giống gà thường được chọn lọc di truyền theo hướng tăng trọng nhanh. Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng nhanh chóng của gà cũng đồng thời làm tăng nhu cầu về hệ thống xương dẫn đến hậu quả suy giảm vận động, dễ gây tình trạng gà bị què.

Gà bị què quặt hay suy giảm vận động trên gia cầm là những tình trạng vô cùng đáng báo động không chỉ vì nó liên quan đến quyền lợi động vật mà còn vì những tổn thất về mặt kinh tế mà nó mang lại là vô cùng to lớn vì tình trạng trên làm gia tăng tỷ lệ tử vong, giảm lượng thức ăn thu nhận và giảm tốc độ tăng trưởng trên đàn gia cầm.

Gà bị què quặt hay suy giảm vận động trên gia cầm là những tình trạng vô cùng đáng báo động. (Ảnh minh họa)

Dinh dưỡng đóng một vai trò vô cùng quan trọng đối với sức khỏe và sự phát triển của bộ xương. Do đó mà có vô số các yếu tố dinh dưỡng có thể ảnh hưởng đến xương khớp mà thường biểu hiện ra ngoài dưới dạng gà bị què.

Như vậy, muốn khắc phục tình trạng gà bị què cho gia cầm thì buộc ta phải xác định được yếu tố nào là căn nguyên.

Mục tiêu của bảng phân tích này là phác thảo một số yếu tố dinh dưỡng có thể góp phần làm gia tăng tỷ lệ mắc bệnh trên gia cầm và cung cấp các giải pháp sơ bộ để giúp giảm nhẹ thiệt hại do các yếu tố đó gây ra.

Tình trạngNguyên nhânTriệu chứngBệnh tíchGiải pháp
 Còi xươngThiếu Vitamin D3, mất cân bằng Ca/P Xương ống chân và xương đùi sưng to, phần đầu mỗi xương phình ra to hơn bình thường
– Sụn vô tổ chức, có cấu tạo bất bình thường.
– Các mạch máu thâm nhập một cách bất bình thường, không theo quy luật nào cả.
 Bổ sung thêm Vitamin D3 cho đàn, đồng thời cân bằng lại hàm lượng Ca và Ph thu nhận.
Bệnh Perosis (do thiếu Mangan) / Gân hóa xương.Do thiếu Mangan
– Chân sưng to, ngắn bất thường.
– Cánh ngắn.
– Xương và khớp bàn chân sưng to, biến dạng.
– Bổ sung Mangan đầy đủ nhất là trong quá trình gia cầm sản xuất.
– Duy trì cân bằng tỷ lệ Mn-Ca-P.
Loãng xương/ gà đẻ nuôi chuồng lồng mệt mỏi.Gà đẻ thiếu Canxi
– Xương mềm, xương “cao su”.
– Gia cầm dạt sang 2 bên và phía sau của lồng.
– Gãy xương cột sống.
– Có ảnh hưởng đến tủy sống.
-Bổ sung thêm Ca một cách thích hợp trong giai đoạn sản xuất của gia cầm.
– Lượng Ca cho ăn cần để ý, 50% bổ sung dưới dạng đá vôi thô, 50% còn lại nên bổ sung dưới dạng đá vôi mịn.
Nhiễm độc Ionophore (có trong thuốc điều trị cầu trùng)Nhiễm độc Chân liệt và choãi sang 2 bên, choãi về đằng sau. Không có tổn thương cụ thể nào – Trộn thức ăn một cách hợp lý.
– Loại bỏ Ionophore ra khỏi cơ thể vật bệnh.
 Viêm da bàn chân, da chân phồng rộp, bỏng amoniac -Thiếu hụt biotin.
-Chất lượng lứa đẻ kém.
 Loét da bàn chân Hoại tử trên bề mặt của gan bàn chân – Cho ăn chế độ ăn riêng biệt phù hợp với vật khi bị bệnh, bổ sung men sống.
-Bổ sung Biotin vào thức ăn.
-Điều chỉnh độ ẩm thấp xuống, thông gió phù hợp và tránh tràn nước làm ướt chuồng nuôi.
 Nhuyễn sụn xương chày / hoại tử xương -Tỷ lệ Ca/P mất cân bằng.
-Dư thừa Clorua trong thức ăn  -> chuyển hóa thành axit.
-Mất cân bằng axit-bazơ.
– Do nhiễm độc tố nấm mốc.
 -Vùng đầu gối và các khớp xương cong, sưng.
– Chân hình thành các “góc nhọn”.
– Thường xảy ra trên những gia cầm > 35 ngày tuổi.
 Phần sụn từ xương chày cho đến phần giữa bàn chân bị nhuyễn, mềm dần -Cân bằng lại chế độ dinh dưỡng.
-Thêm một chất có khả năng khử độc tố nấm mốc vào trong thức ăn.

Như vậy, trên đây là toàn bộ những trường hợp có thể xảy ra khi gia cầm mà cụ thể là đàn gà nhà bạn có các dấu hiệu liên quan đến bộ xương, hy vọng những thông tin trên giúp quý độc giả có thêm góc nhìn và chủ động hơn trong quá trình chẩn đoán cũng như điều trị.

VietDVM team biên dịch
(Theo: wattgnet)
Share:

Fanpage

BÀI VIẾT NỔI BẬT

Recent Posts

Pages